Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

Tư vấn sức khỏe - Bệnh động kinh và những điều cần biết


Tư vấn sức khỏeÐộng kinh (ÐK) là một bệnh mạn tính, biểu hiện bởi sự tái diễn các cơn co giật, dị cảm trong nhiều năm trên cùng một cá thể, các cơn xảy ra bất kỳ không biết trước.




Tư vấn sức khỏe - Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể tử vong (khi xuất hiện cơn động kinh) do ngã vào lửa, nước, chấn thương sọ não hoặc dẫn đến sa sút trí tuệ và thay đổi nhân cách. Ngược lại, nếu được chẩn đoán, điều trị đúng thì có thể chữa khỏi bệnh hoặc khống chế được cơn, đưa bệnh nhân hòa nhập cộng đồng.



Bệnh động kinh và những điều cần biết
Tư vấn sức khỏe - Bệnh động kinh và những điều cần biết


>> RƯỢU THUỐC CÓ THỂ TĂNG SỨC KHỎE TÌNH DỤC

Thế nào là cơn động kinh?

Cơn động kinh trên lâm sàng có thể biểu hiện bằng cơn co giật chân tay hoặc cảm giác tê bì, kiến bò hay nhìn thấy các cảnh tượng lạ hoặc ngửi thấy mùi bất thường như mùi khét đôi khi có thể gặp cơn loạn thần. Trong cơn ĐK, bệnh nhân có thể mất ý thức hoặc không. Các biểu hiện này liên quan đến phóng lực kịch phát, quá mức và đồng thời của các nơron trên vỏ não. Cơn động kinh thường ngắn từ vài giây đến vài phút và xuất hiện đột ngột. Cơn động kinh chỉ là một tai biến hay triệu chứng của một rối loạn chức năng não tạm thời, thoảng qua, vào một thời điểm này hoặc thời điểm khác trong cuộc đời. Một cơn động kinh duy nhất hoặc có lặp lại nhưng trong bối cảnh một bệnh cấp tính thì không được coi là bệnh động kinh (sốt cao co giật, sản giật, hạ đường máu, cơn động kinh trong viêm não hoặc tăng urê huyết...).

Phân loại động kinh như thế nào?

Tư vấn sức khỏe - Theo nguyên nhân gây bệnh, động kinh được chia làm hai loại, gồm động kinh không rõ nguyên nhân (không có tổn thương ở não, thường bắt đầu ở tuổi thơ ấu hoặc thiếu niên, chủ yếu do yếu tố di truyền) và động kinh triệu chứng (gây ra bởi những tổn thương não tiến triển hoặc di chứng).
Theo biểu hiện lâm sàng, chia thành cơn động kinh cục bộ (cơn động kinh cục bộ đơn giản với các triệu chứng vận động hoặc với các triệu chứng cảm giác, giác quan, với các triệu chứng thực vật hay với các triệu chứng tâm thần; cơn động kinh cục bộ phức hợp khởi đầu bằng cơn cục bộ đơn giản sau đó rối loạn ý thức hoặc/và các động tác tự động hoặc rối loạn ý thức ngay từ đầu cơn, có thể có hoặc không kèm theo các động tác tự động; cơn cục bộ toàn thể hóa thứ phát; cơn ĐK toàn bộ (gồm cơn vắng ý thức, cơn giật cơ; cơn co giật; cơn trương lực; cơn mất trương lực, cơn co cứng - co giật trước đây gọi là động kinh cơn lớn); cơn không phân loại.

Nguyên nhân chính của cơn động kinh

Chuyển hoá: Do hạ đường máu; Hạ calci máu/tăng calci máu/hạ natri máu/tăng natri máu; Suy thận tiến triển/ suy gan tiến triển. Những cơn động kinh có nguồn gốc chuyển hóa thường là những cơn lớn thuộc loại co cứng - co giật.
Ngộ độc: Nghiện rượu là nguyên nhân hay gặp của cơn động kinh, uống quá nhiều rượu thuận lợi cho sự xuất hiện những cơn động kinh ở những người bệnh động kinh; Cơn động kinh khi ngưng rượu (cai rượu) là những cơn động kinh toàn bộ thuộc thể co cứng- co giật ở những người nghiện rượu mạn tính, xuất hiện vài giờ đến ba ngày sau ngừng uống rượu; Do quá liều thuốc (thuốc chống trầm cảm  ba vòng, thuốc an thần kinh... Ngừng thuốc đột ngột benzodiazepine (seduxen, diazepam), barbituric (gardenal); Ngộ độc khí CO; Những chất làm tê mê như cocaine.
Nhiễm trùng: Viêm màng não; Áp xe não.

Mạch máu: Tai biến mạch não (Nhồi máu não/Chảy máu não/Viêm tắc tĩnh mạch não/Chảy máu màng não); Dị dạng mạch não chưa vỡ (thông động tĩnh mạch hoặc u hang mạch); Bệnh não cấp do tăng huyết áp; Đợt viêm mạch não...

Chấn thương: Chấn thương sọ não nặng (những cơn động kinh sớm và/hoặc cơn động kinh muộn di chứng sau chấn thương, thường trong vòng 3 năm đầu); Máu tụ mạn tính dưới màng cứng đôi khi được phát hiện bởi cơn động kinh.
Khối u: Chiếm khoảng 10% động kinh ở người lớn tuổi, thường là ở bán cầu như u tế bào hình sao, u màng não, u tế bào thần kinh đệm ít nhánh, u nguyên bào đệm, u di căn.

Ngoài ra còn những cơn động kinh không rõ nguyên nhân.

Tư vấn sức khỏe  - Nguyên nhân của động kinh còn có thể gặp trong các trường hợp xơ cứng hệ viền và loạn sản phôi của vỏ não; Hội chứng thần kinh da; Bệnh Creuzfeldt- Jakob...

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định cơn động kinh dựa vào chứng kiến cơn của thầy thuốc hoặc dựa vào sự mô tả cơn của người nhà hay nhân chứng xung quanh bệnh nhân.
Cần chẩn đoán phân biệt cơn ĐK với các bệnh lý khác:
- Cơn hysteria: là bệnh loạn thần kinh chức năng do căn nguyên tâm lý, cơn thường xuất hiện chỗ đông người, không có tính chất định hình, động tác hỗn độn khác với trong cơn giật. Trong cơn mắt nhắm chặt có khi chớp nhanh, lấy bông quẹt vào giác mạc bệnh nhân phản ứng nhắm mắt lại. Thời gian lên cơn dài có khi nhiều giờ.
- Cơn ngất: Mất ý thức ngắn, trước đó BN có triệu chứng tái mặt, buồn nôn, vã mồ hôi. Một số trường hợp bệnh nhân không mất ý thức (thỉu). Ngất do ngừng tim tạm thời hoặc do hạ huyết áp đột ngột. Đôi khi ngất kèm theo co giật còn gọi là ngất - co giật.
- Cơn loạn nhịp tim chậm: cơn kéo dài có thể dẫn đến mất ý thức, giật, tím tái, mất phản xạ đồng tử và có dấu hiệu Babinski. Di chứng thần kinh tùy thuộc tổn thương não do thiếu máu.
- Cơn migraine (cơn migraine phối hợp rối loạn vận động và cảm giác nửa người).
- Hạ đường máu: có thể gây nên mất ý thức thực sự, đôi khi giống như cơn động kinh nhưng hoàn cảnh xuất hiện bệnh rất đặc biệt và trước đó BN có cảm giác đói, bủn rủn, vã mồ hôi, tái mặt. Hạ đường máu hay gặp trên BN điều trị insulin quá liều.

- Thiếu máu não cục bộ thoảng qua: xảy ra đột ngột liệt nửa người hoặc thất ngôn hoặc mất thị lực một mắt, khỏi trong ít phút đến 24 giờ, thời gian tồn tại liệt thường kéo dài và ít khi rối loạn ý thức lúc khởi đầu. 

Suckhoe68.com theo: Sức khỏe đời sống

Tin liên quan:

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Sức khỏe tình dục: Hiện tượng tinh dịch bị vón cục



Suc khoe tinh duc - Tinh dịch vón cục không phải là một bệnh mà chỉ là biến chứng của nhiễm khuẩn (hay bệnh tự miễn dịch) của các cơ quan đã góp phần tạo nên tinh dịch.


Suc khoe tinh duc - Tinh dịch có thành phần như thế nào?

Tinh dịch là chất lỏng sệt, thường có chứa tinh trùng do tuyến sinh dục nam (tinh hoàn) sản xuất để thụ tinh cho trứng. Giống như máu tinh dịch có 2 phần: chất dịch và tinh trùng.

Suc khoe tinh duc: Hiện tượng tinh dịch bị vón cục


- Chất dịch chủ yếu do túi tinh và tuyến tiền liệt tiết ra, tinh trùng do tinh hoàn sinh ra, di chuyển theo các ống dẫn tinh để lên đổ vào túi tinh, trộn lẫn chất dịch nói trên .

- Tinh trùng là những tế bào sinh dục có thể di chuyển được. Nếu lấy một giọt tinh vừa được phóng ra soi lên kính hiển vi thì sẽ thấy tinh trùng chuyển động như một đám nòng nọc bơi trong nước. Ngoài nước, các chất protein, đường, muối khoáng, chất dịch do tuyến tiền liệt và túi tinh tiết ra còn có các tế bào biểu mô của ống dẫn tinh và túi tinh, một ít tế bào máu (bạch cầu, hồng cầu ) và có thể cả vi trùng gây bệnh. Tinh dịch mới phóng ra màu trắng, hơi đục như sữa chứa nước rất dính, để ra ngoài không khí một lúc thì lỏng ra.

Phần lỏng của tinh dịch do các cơ quan sinh sản phụ tiết ra: 60% từ túi tinh và phần còn lại từ tuyến tiền liệt. Một lượng nhỏ niêm dịch do các tuyến hành - niệu đạo tiết ra góp phần làm cho tinh dịch có độ sệt dính.

Suc khoe tinh duc - Khi nào tinh dịch bị vón cục?

Nếu các bộ phận này bị nhiễm khuẩn thì tinh dịch trở nên đặc sệt hơn nữa và làm vón cục các thành phần hữu hình (tinh trùng, bạch cầu, tế bào biểu mô); như thế gọi là tinh dịch vón cục, hậu quả của tiến trình viêm do nhiễm khuẩn.

Có máu trong tinh dịch thường không nhận ra bằng mắt thường nhưng nếu có máu nhiều thì cũng nhìn rõ; nguyên nhân có thể do viêm, nhiễm khuẩn, bị tắc nghẽn ở đường dẫn tinh hay bị chấn thương ở đường sinh sản hay có vấn đề ở niệu đạo, tinh hoàn, mào tinh hoàn và tuyến tiền liệt. Cần phân tích kỹ hơn tinh dịch và làm các xét nghiệm về tiết niệu sinh dục mới có thể tìm ra nguyên nhân có máu trong tinh dịch, đôi khi chỉ thực hiện được ở cơ sở y tế chuyên khoa tiết niệu. Đường fructose là nguồn cung cấp năng lượng cho tinh trùng chạy được trên đường đua  đi tìm trứng. Còn các thành phần khác của tinh dịch giúp tinh trùng di chuyển trong âm đạo và đi qua cổ tử cung, nhờ làm cho môi trường bớt dính quánh để tinh trùng có thể bơi qua dễ dàng. Khi phần "cái" hoặc "nước" bị nhiễm khuẩn thì tinh dịch trở nên đặc sệt, các thành phần hữu hình (tinh trùng, bạch cầu, biểu mô) quện lại với nhau thành "đám" gọi là tinh dịch vón cục.

Nếu tinh dịch tiếp xúc với không khí thì phân huỷ và bốc mùi, có khi giống như mùi cỏ tươi mới cắt hay mùi chất tẩy chloride… 

Tóm lại, tinh dịch bình thường không vón cục, nếu có hiện tượng này cần được thầy thuốc xem xét kỹ, phải làm số xét nghiệm để biết thành phần nào của tinh dịch đã bất thường (mỡ, amino cacid, đường…) và đánh giá lại hệ thống niệu - sinh dục.

suc khoe tinh duc có thể không ảnh hưởng vì cơ chế gây ra hiện tượng cương dương chỉ liên quan thần kinh và các mạch máu đi đến thể hang của cơ quan sinh dục nam, nhiều nam giới không có hay có ít tinh trùng gặp khó khăn trong việc có con nhưng vẫn có suc khoe tinh duc và có đời sống tình dục bình thường.

Chú ý: Nếu có thắc mắc về vấn đề tinh dịch bị vón cục hoặc suc khoe tinh duc  mời bạn gọi điện thoại đến tổng đài tu van suc khoe 19008909 để được tu van suc khoe truc tuyen.


BS Hà Khuyên (Suckhoe68.com TH)

Tin liên quan:

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

Tư vấn nam khoa: Tác hại của thủ dâm

Tư vấn nam khoa - Lạm dụng thủ dâm có thể gây những hậu quả thể chất, tâm lý và thần kinh. Tuy nhiên, thủ dâm vừa phải vẫn có những lợi ích nhất định...


Tư vấn nam khoa - Trên thực tế nhu cầu tình dục và khả năng đáp ứng của cơ thể mỗi người mỗi khác nên không có con số nào “định mức” chung cho việc thủ dâm hay quan hệ tình dục. Một tuần thủ dâm mấy lần, thủ dâm vào những thời điểm nào là do mỗi người tự lựa chọn, dựa trên việc lắng nghe nhu cầu, ham muốn tình dục của bản thân, điều kiện sinh hoạt, học tập và làm việc… sao cho việc thủ dâm đem lại khoái cảm, sự thoải mái, thỏa mãn và không ảnh hưởng gì tới các hoạt động khác.


Tư vấn nam khoa: Tác hại của thủ dâm

 Giới hạn bình thường của hành vi thủ dâm (tự kích dục) ở nam giới trẻ có thể là 1-2 lần mỗi tuần nhưng cần xem là bất thường khi có những biểu hiện sau: 

- Có đủ cơ hội để có quan hệ tình dục bình thường mà vẫn thích thực hành thủ dâm. 

- Thủ dâm quá sớm. 

- Làm nhiều lần trong ngày. 

- Cảm thấy mỏi mệt, sao nhãng nhiệm vụ học tập, cảm giác ân hận sau mỗi lần thực hành, suốt ngày nghĩ nhiều đến chuyện tình dục nam nữ. 

Tư vấn nam khoa - Phần lớn hành vi tự kích dục bất thường gây hại cho sức khoẻ. Có người bị rối loạn tiêu hóa (tuy không thường xảy ra) dưới dạng ăn không tiêu, không thèm ăn, tiêu chảy hoặc táo bón, kèm theo các cơn đau dạ dày. Nhiều trường hợp thấy buồn nôn, hơi thở hôi và mệt mỏi hoặc có những biến đổi ở bộ máy tiết niệu - sinh dục như đái rắt, viêm tuyến tiền liệt, di tinh, nhất là sau khi đi đại tiện hay tiểu tiện. Trong số những biến đổi của hệ thần kinh, cần nói đến trước tiên là bệnh suy nhược thần kinh, tâm trạng bồn chồn và nhiều rối nhiễu khác. 



Những biến đổi và rối loạn về tâm lý là hậu quả quan trọng nhất, bao gồm các dấu hiệu rụt rè, nhút nhát, mặc cảm phạm tội, sống tách biệt, lẩn tránh mọi người, có tính đố kỵ, chán ghét môi trường sống, trầm cảm, bệnh tưởng và sầu muộn có thể dẫn đến tự sát. Không thể phủ nhận rằng, thủ dâm có tính bệnh lý là tiền đề để phát triển nhiều loại hành vi tình dục sai lạc khác. Vì thế, cần loại trừ những nguyên nhân có khả năng gây ra hiện tượng lạm dụng tự kích dục: ảnh hưởng của bạn bè, tác động của phim ảnh, băng hình đồi trụy... 

Mặc dù không có thuốc đặc hiệu để chữa thói quen thủ dâm quá nhiều nhưng có thể dùng thuốc an thần để hỗ trợ và tạo một lối sống tích cực, năng vận động, tập luyện thể thao... 

Chú ý:  Nếu bạn cần tu van suc khoe tình dục nam giới , tư vấn nam khoa hãy gọi đến tổng đài 19008909 để nhận được sự giúp đỡ từ các chuyên gia tu van suc khoe truc tuyen một cách chi tiết và cụ thể nhất cho bạn. 

Chúc các bạn sức khỏe!

BS. Đoàn Hằng (TH)
Nguồn: Suckhoe68.com

Tin liên quan:

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

Rượu thuốc có thể tăng sức khỏe tình dục - Tư vấn nam khoa


Suc khoe tinh duc - Thực tế thuốc Đông y có những vị thuốc hay, rẻ tiền, pha chế không mấy phức tạp, hợp với thể trạng của nhiều người mà lại không bị các phản ứng như các thuốc tân dược hiện đại.


Với nguồn dược liệu trong nước, bài thuốc dưới đây có thể chữa được và chữa khỏi căn bệnh yếu sinh lý ở nam giới tăng cường suc khoe tinh duc cho nam giới và chữa khỏi một số bệnh nam khoa của nam giới.


Nhiều loại rượu ngâm có tác dụng bổ dương tăng cường suc khoe tinh duc!

Bài thuốc giúp suc khoe tinh duc gồm có: Rượu ngâm rắn các loại (từ 7 đến 9 con) cùng với chim bìm bịp.
Thuốc gồm: nhục thung dung, thục địa, dâm dương hoắc, hoài sơn, hắc kỷ tử, cao khởi, sa sâm, cam thảo, đỗ trọng, đẳng sâm mỗi vị 2 lượng; hải mã (cá ngựa) 2 cặp.

Tính chất và hoạt chất của bài thuốc giúp tăng cường  suc khoe tinh duc cho nam giới:
- Nhục thung dung: bổ thận, tráng dương, tăng cường sinh lực.
- Dâm dương hoắc: bổ thận, mạnh gân cốt.
- Hắc kỷ tử: bổ thận, bổ khí huyết, tăng cường sinh lực dồi dào, tăng cường suc khoe tinh duc nam giới.
- Sa sâm: bổ tỳ, có tính chất dùng để chữa di tinh hoặc xuất tinh sớm.
- Đỗ trọng: bổ can thận, mạnh gân cốt, dùng để chữa đau lưng, gối mỏi, tiểu tiện nhiều.
- Thục địa: bổ tinh, sáng mắt, làm cho râu tóc đen lại, cường kiện tráng dương, trị suy nhược.
- Đảng sâm: Trị suy kiệt, yếu tinh, liệt dương.
- Hoài sơn: trị đau thận, suy thận.
- Cam thảo: bổ tỳ, giải độc, thanh nhiệt, điều hòa các vị thuốc trong kinh mạch.
- Cá ngựa: vị ngọt, hơi mặn, tính ấm, bổ khí huyết, phụ nữ chậm có con dùng rất tốt.



Cách pha chế:
Rượu rắn ngâm từ 100 ngày trở lên, từ khi ngâm đến 100 ngày, không được mở ra xem, vì lúc đầu có mùi thuốc, sau đó mới thơm. Rượu rắn ngâm lấy nước 1 và nước 2 hòa chung.
Thuốc: Bỏ tất cả vào một thẩu bằng thủy tinh to, để 7 loại rượu trắng tốt (từ 40-45o) ngâm từ 30-40 ngày. Trộn chung rượu rắn với rượu thuốc đã ngâm. Sau khi đã trộn chung cả hai thứ rượu ta cho thêm các vị thuốc sau để khử mùi tanh và cho dễ uống: Trần bì, đại hồi, huyết giác, bạch chỉ, sa nhân mỗi thứ 10g; thiên niên kiện, quế chi, hà thủ ô mỗi thứ 15g.
Cho các vị trên vào 1 lít mật ong (nếu có), còn không có mật ong thì cho vào 6-8 lạng đường phèn để cho dục mùi và điều hòa các vị thuốc.
Mỗi ngày uống từ 2-3 chén con vào trưa và tối (uống sau khi ăn), uống từ 10-15 ngày. Dùng càng lâu, chất lượng càng tốt.

Chú ý: Nếu bạn muốn tăng cường suc khoe tinh duc nam giới hãy gọi điện đến tổng đài tư vấn nam khoa 19008909 để nhận được sự tu van suc khoe truc tuyen của các chuyên gia.

BS. Đoàn Hằng (TH)
Nguồn: Suckhoe68.com

Tin liên quan:

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Viêm gan B - Triệu chứng của bệnh viêm gan B cấp


Viêm gan B là bệnh lý truyền nhiễm thường gặp có thể lây qua đường máu, tình dục, rau thai.Viêm gan B nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể trở thành mạn tính, xơ gan và ung thư gan.


Viêm gan B - Triệu chứng của bệnh viêm gan B cấp - tu van suc khoe


 1.Thời kì ủ bệnh
 Viêm gan B có thời kì ủ bệnh thay đổi từ 40-180 ngày. Trong thời gian này hầu như không có biểu hiện gì.

2.Thời kì khởi phát (Tiền hoàng đảm)
Kéo dài 3-9 ngày

-       Mệt mỏi dữ dội, toàn thân chỉ nhiễm trùng nhẹ

-       Rối loạn tiêu hóa

-       Đau bụng âm ỉ vùng thựng vị và hạ sườn phải

-       Tiểu ít, nước tiểu sẫm màu

-       Tam chứng Carolie ( đối với viêm gan B)

+ Hội chứng giả cúm

+ Phá ban nhất thời kiểu mày đay

+ Đau khớp, nhất là các khớp nhỏ.

-       Xét nghiệm thấy Transaminase( AST, ALT) tăng cao gấp 5- 10 lần có giá trị chẩn đoán sớm.

Viêm gan B - Hình ảnh gan bị viêm do virus

3.Thời kỳ toàn phát( Hoàng đảm)
Vàng da, vàng mắt tăng dần. Khi vàng da thì hết sốt.

Nước tiểu vẫn ít và sẫm màu, phân bạc màu

Mệt mỏi, chán ăn, ăn đầy bung, sợ các thức ăn có mỡ.

Khám thấy gan to ít, ấn tức. Lách to 10-20%

Xét nghiệm:

Hội chứng hủy hoại tế bào gan: ALT, AST tăng cao.

Hội chứng ứ mật: Bilirubin máu tăng cao

Hội chứng suy tế bào gan: Tỷ lệ prothrombin giảm, Albumin giảm, A/G <1

Công thức bạch cầu bình thường, có thể giảm nhẹ.

Cần làm các xét nghiệm các dấu ấn viêm gan tìm căn nguyên.



4. Diễn biến
Viêm gan B cấp thường khỏi sau 4-6 tuần.

Thời kì lui bệnh đi giải nhiều, tiểu trong, vàng da hết dần, các xét nghiệm trở về bình thường.

Viêm gan B có thể tiến triển thành mạn tính 5-10%, viêm gan C 50% thành mạn tính.

5. Các thể lâm sàng của viêm gan B cấp:
1.    Thể không có triệu chứng: 80- 90%
2.    Thể vàng da thông thường:
Ủ bỦ bệnh 50-150 ngày. Tiền hoàng đảm 5-15 ngày, triệu chứng lâm sàng thường gặp như vàng da nhẹ, rối loạn tiêu hóa và sốt

Vàng da tăng dần, kềm theo nước tiểu sẫm màu và phân có nhạt màu hơn, lúc này các dấu hiệu giai đoạn trước mất đi, mệt mỏi. Đôi khi có ngứa. Gân thường sờ thấy, lách cũng to nhẹ. Bệnh nhân gầy đi khoảng 2-4 kg.

Sau 2-6 tuần, vàng da đỡ đi, ăn ngon miệng trở lại và đỡ mệt mỏi. Bệnh khỏi không để lại di chứng.

3.    Các thể đặc biệt:
-       Thể không vàng da: Các dấu hiệu lâm sàng nhưng không vàng da.

-       Thể tắc mật: Biểu hiện tắc mật trong trường hợp này trầm trọng hơn trong thể thông thường, không có ngứa.

-       Thể kéo dài: Lâm sang và các xét nghiệm sinh học kéo dài sau 6 tuần và mất đí sau3-4 tháng.

-       Thể tái phát: có thể xảy ra sau khi đã khỏi bệnh hoàn toàn hoặc hầu như hoàn toàn.

Chú ý: Nếu có thắc mắc về các triệu chứng của viêm gan B  xét nghiệm và điều trị viêm gan B hãy gọi điện đến tổng đài tu van suc khoe chuyên mục suc khoe va doi song 19008909 để nhận được sự tu van suc khoe truc tuyen của các chuyên gia.

BS. Đoàn Hằng (Suckhoe68.com)

Tin liên quan:

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Thuốc chữa bệnh nam khoa: Thuốc điều trị xuất tinh sớm


Thuốc chữa bệnh nam khoa điều trị xuất tinh sớm như thuốc gây tê tại chỗ được xem là các biện pháp nội khoa đầu tiên trong lịch sử điều trị bệnh. Tác dụng của thuốc này là làm giảm độ nhạy cảm của quy đầu dương vật. Sau đó rất nhiều thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành và cho biết thuốc gây tê tại chỗ có thể làm tăng thời gian xuất tinh lên 6 - 8 lần.


Thuốc chữa bệnh nam khoa: Thuốc điều trị xuất tinh sớm


1. Định nghĩa Xuất tinh sớm
Theo Hội Y học tình dục thế giới (2008): “Xuất tinh sớm bệnh nam khoa này là một trong các rối loạn tình dục ảnh hưởng tới suc khoe tinh duc được đặc trưng bởi sự xuất tinh sớm trước khi hay ngay sau khi đưa dương vật vào âm đạo và mất khả năng kéo dài thời gian xuất tinh mỗi khi đưa dương vật vào âm đạo. Tình trạng này xảy ra thường xuyên gây nên những tác động không tốt đến người bị bệnh cũng như đối tác của họ như stress, chán nản hay không còn hào hứng với chuyện tình dục”.

Định nghĩa này chỉ giới hạn cho những người nam giới có quan hệ tình dục đều đặn, thường xuyên. 

2. Nguyên nhân xuất tinh sớm

2.1. Nguyên nhân tâm lý 

- Do quá xúc động, hồi hộp mà bản thân không tự kiềm chế nổi.

- Hoàn cảnh khách quan, hoặc ý thức cho rằng quan hệ chỉ nhằm mục đích duy trì nòi giống mà không quan tâm đến khoái cảm cho cả 2 người.

- Sự thất bại trong một vài lần đầu tiên dẫn đến ám ảnh, lo lắng, chán nản, bực bội... lâu dần thành bệnh.

- Một nguyên nhân khác dẫn đến bệnh nam khoa này đang còn tranh cãi đó là việc thủ dâm trước đây gây nhiễu loạn cơ chế xuất tinh. Tuy nhiên vấn đề này đang còn tranh luận vì thực tế có nhiều người có tiền sử thủ dâm nhưng không bị xuất tinh sớm.

2.2. Một số nguyên nhân thực thể khác như

- Quá tăng cảm vùng dương vật.

- Tăng ngưỡng kích thích của thần kinh xung quanh cơ quan xuất tinh cũng làm xuất tinh nhanh hơn.

- Do một số bệnh như: viêm tuyến tiền liệt mạn tính, trĩ, dò hậu môn, tổn thương tủy sống, thiểu năng sinh dục, rối loạn nội tiết…

Sau đây Suckhoe68.com chuyên mục suc khoe va doi song sẽ liệt kê một số loại thuốc chữa bệnh nam khoa  Thuốc điều trị xuất tinh sớm

3. Thuốc chữa bệnh nam khoa: Thuốc điều trị xuất tinh sớm

Có nhiều phương pháp điều trị xuất tinh sớm tùy vào nguyên nhân. Sau đây là các loại thuốc sử dụng trong điều trị xuất tinh sớm. 

Có 3 nhóm thuốc chính đã được nghiên cứu áp dụng vào điều trị

3.1. Thuốc chữa bệnh nam khoa: Thuốc gây tê tại chỗ

Thuốc gây tê tại chỗ được xem là các biện pháp nội khoa đầu tiên trong lịch sử điều trị bệnh. Tác dụng của thuốc chữa bệnh nam khoa điều trị xuất tinh sớm này là làm giảm độ nhạy cảm của quy đầu dương vật. Vào đầu những năm 1943, Bernard Schapiro đã thông báo về tác dụng của các thuốc này đối với việc duy trì và kéo dài thời gian xuất tinh. Sau đó rất nhiều thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành và cho biết thuốc gây tê tại chỗ có thể làm tăng thời gian xuất tinh lên 6 - 8 lần. Các thuốc này là những thuốc được Hội Y học tình dục thế giới thống nhất cho điểm A trong việc ưu tiên lựa chọn các thuốc điều trị xuất tinh sớm.

Tác dụng không mong muốn của các loại thuốc chữa bệnh nam khoa  thuốc gây tê tại chỗ này là làm giảm độ nhạy cảm của quy đầu dương vật và âm đạo. Để loại trừ bớt tác dụng không mong muốn này, có thể sử dụng bao cao su.

3.2. Thuốc chữa bệnh nam khoa: Thuốc chống trầm cảm

Bao gồm các thuốc như chất ức chế monoamine oxidase (MAO), thuốc chống trầm cảm loại ba vòng và sau này là các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs). Trong quá trình theo dõi sự an toàn của các thuốc, người ta thấy rằng một số bệnh nhân bị trầm cảm sau khi dùng thuốc này các triệu chứng trầm cảm cải thiện rõ rệt nhưng lại xuất hiện hiện tượng chậm xuất tinh và nặng hơn là giao hợp không xuất tinh. Điều này đã gây nên sự chú ý của các nhà tình dục học và nam học. Ngay lập tức rất nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu đánh giá tác dụng của các thuốc chống trầm cảm trong việc điều trị xuất tinh sớm ảnh hưởng tới suc khoe tinh duc hay chính là suc khoe va doi song tình dục của nam giới.



Dựa trên các nghiên cứu cơ bản người ta thấy rằng serotonin, loại 5-hydroxytryptamine (5-HT) có tác động lưỡng cực. Điều này có nghĩa là khi nó tác động lên các receptor ở hậu synap trong não, chúng sẽ làm kìm hãm quá trình xuất tinh. Nhưng ngược lại, khi tác động lên các receptor tự động ở sợi trục của thần kinh bản thể (5-HT1A subtype) chúng lại có tác dụng làm cho quá trình xuất tinh xảy ra dễ dàng hơn. Cơ chế điều khiển hoạt động bài tiết của các serotonin (5-HT) là cơ chế điều khiển ngược âm tính. Cơ chế này được bắt đầu từ các kích thích ở các receptor tự động của sợi trục của các dây thần kinh bản thể (5-HT1A) làm giải phóng ra 5-HT, làm cho nồng độ 5-HT tăng lên. Sau khi các receptor của các sợi thần kinh bản thể được kích thích thì tại các đầu tận cùng thần kinh, các receptor tự động (5-HT1B) cũng được hoạt hóa, khi các receptor này được hoạt hóa sẽ làm cho nồng độ của các 5 HT ở synap bị giảm đi. Ngoài ra, một yếu tố khác cũng đóng góp vào quá trình điều khiển hoạt động của 5-HT đó là các protein vận chuyển. Loại protein này nằm trong màng bào tương của các tế bào thần kinh soma, chuyên vận chuyển 5- HT từ đầu tận cùng thần kinh và môi trường ngoại bào về khe synap. 

Cơ chế tác động của các SSRIs là ức chế các protein vận chuyển nói trên, SSRIs làm cho nồng độ 5- HT tích lũy ở khoang dịch ngoại bào tăng lên, điều này làm cho các kích thích của receptor tiền synap, hậu synap và 5-HT tăng lên.

Vào năm 1973, nghiên cứu lâm sàng đầu tiên đánh giá tác dụng của thuốc chữa bệnh nam khoa clomipramine, một loại thuốc chống trầm cảm, trong việc kéo dài thời gian xuất tinh đã được công bố. Sau đó nhiều tác giả khác cũng chứng minh tác dụng của các thuốc SSRIs đối với việc duy trì thời gian xuất tinh.

Tác dụng không mong muốn:  việc sử dụng những thuốc trị bệnh nam khoa việc xuất tinh sớm này hàng ngày, trong thời gian dài có thể gây một số tác dụng không mong muốn như khi điều trị trầm cảm. Gần đây, để giảm bớt tác dụng không mong muốn của  thuốc người ta đã sử dụng thuốc theo nhu cầu nghĩa là chỉ sử dụng khi có quan hệ tình dục. Điều này hạn chế tối đa sự có mặt của thuốc trong cơ thể nên đồng nghĩa với việc các tác dụng không mong muốn của thuốc sẽ giảm đi đảm bảo suc khoe tinh duc của bạn được tốt hơn.

Theo kết quả của các nghiên cứu nói trên thì thời gian xuất tinh tăng lên từ 4-7 lần sau khi dùng các thuốc SSRIs. Dựa trên các nghiên cứu về lâm sàng cũng như tiền lâm sàng, Hội Y học tình dục thế giới cũng đã xếp các thuốc SSRIs vào thang điểm A trong việc lựa chọn thuốc chữa bệnh nam khoa thuôc điều trị xuất tinh sớm.

3.3. Thuốc chữa bệnh nam khoa: Các loại thuốc ức chế men Phosphodiesterase-5

Được biết đến là các thuốc chống rối loạn cương dương, cũng đã được thử nghiệm để điều trị xuất tinh sớm. Một vài nghiên cứu với số người tham gia nghiên cứu còn ít cho thấy các thuốc này cũng có vai trò nhất định trong việc điều trị xuất tinh sớm, đặc biệt là khi phối hợp với các thuốc chống trầm cảm loại SSRIs. Tuy nhiên, các nghiên cứu về sau lại không khẳng định điều này, đặc biệt là khi phối hợp với các thuốc gây tê tại chỗ. Chính vì chưa có sự thống nhất giữa các nghiên cứu về tác dụng của thuốc đối với việc duy trì thời gian xuất tinh nên Hội Y học tình dục thế giới mới chỉ xếp thuốc này vào thang điểm C trong việc lựa chọn thuốc điều trị.

Chú ý: Mọi thắc mắc về suc khoe va doi song tình dục, sức khỏe nam khoa, thuốc bệnh nam khoa .. và bạn muốn được tu van suc khoe thì bạn hãy gọi điện đến tổng đài tu van suc khoe truc tuyen 19008909 để được tư vấn cụ thể và miễn phí hoàn toàn.

Nguồn: Suckhoe68.com

Tin liên quan:

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Viêm gan B: Có cho trẻ bú khi mẹ bị viêm gan B?


Một số bà mẹ hiện khá hoang mang không biết nếu nhiễm viêm gan B (VGSV B) thì có nên sinh con hoặc có thể lây sang thai nhi không…? Các nghiên cứu kết luận, mẹ bị VGSV B vẫn có thể cho con bú nếu như mẹ mang virus không hoạt động.


Viêm gan B: Có cho trẻ bú khi mẹ bị viêm gan B?


Viêm gan B là một nguy cơ đe doạ sức khoẻ cộng đồng. Trong đó ở Việt Nam có tỷ lệ nhiễm siêu vi B lên tới 10-14%. Bệnh nguy hiểm do tính chất diễn biến thầm lặng (80% người bị nhiễm siêu vi không bộc lộ triệu chứng), khả năng lây mạnh (tỷ lệ nhiễm viêm gan B gấp 100 lần siêu vi gây bệnh AIDS). Có thể đột biến gây viêm gan tối cấp dẫn đến tử vong, hậu quả lâu dài và nặng nề (biến chứng xơ gan và ung thư gan). Tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm viêm gan B cũng cao tới 10-13%, lây từ mẹ sang con là 44,7%. Đường lây chủ yếu là khi thai nhi đi qua âm đạo, sau khi sinh cho trẻ bú sưã mẹ chỉ có 3-10% lây qua rau thai.

Ảnh hưởng của nhiễm virus viêm gan B ở người mang thai
Người mẹ có thể nhiễm virus viêm gan B trước khi mang thai hoặc trong khi mang thai nhưng phần lớn là nhiễm từ trước. Siêu vi không gây ảnh hưởng xấu cho tiến trình mang thai cũng như bào thai, thai vẫn phát triển tốt và không có nguy cơ dị dạng. Quan trọng là nguy cơ truyền bệnh cho thai nhi, nếu trẻ không được bảo vệ ngay sau khi sinh thì 50% số trẻ này sẽ bị viêm gan mạn và có nguy cơ bị xơ gan lúc trưởng thành. Tỷ lệ bị viêm gan cấp ngay sau sinh là 5-7% mà không có biểu hiện triệu chứng rõ ràng.

Khả năng truyền bệnh  viêm gan B theo đường mẹ-con trong thời kỳ mang thai:

Thời điểm mẹ mắc bệnh

Tỷ lệ truyền bệnh từ mẹ sang con

3 tháng đầu thai kỳ: 1%

3 tháng giữa thai kỳ: 10%

3 tháng cuối thai kỳ: 67%

Mức độ nhân đôi của siêu vi viêm gan B được xác định bằng xét nghiệm HBeAg huyết thanh, đây là một bằng chứng nguy hiểm của tính lây nhiễm

Phương diện huyết thanh

Tỷ lệ truyền bệnh từ mẹ sang con

HBs Ag (+)/ HBe Ag (+): 90%

HBs Ag (+)/ HBe Ag (-): 10-25%

Hơn 95% trẻ sơ sinh bị nhiễm virus viêm gan B ở giai đoạn chu sinh sẽ tiến triển sang mạn tính do có liên quan đến tình trạng chưa trưởng thành ở hệ thống miễn dịch của trẻ, ngược lại ở tuổi trưởng thành chỉ có 5-7% chuyển sang mạn tính.



Vậy có thể nuôi con bằng sữa mẹ được không?
Vẫn có thể cho con bú mẹ được nếu trẻ được bảo vệ bằng cách tiêm cho trẻ huyết thanh đặc hiệu chống siêu vi B (Ig- AntiB) 100 đơn vị ngay trong phòng đẻ, sau đó tiêm vaccin chống viêm gan B ở những vị trí khác trên cơ thể trẻ sơ sinh theo công thức 3 mũi (ngay sau đẻ, tháng thứ 2 và tháng thứ 3).

HBsAg có trong sữa mẹ nhưng lây truyền chủ yếu là khi trẻ bú thường cắn đầu vú mẹ và làm trầy xước da nên phải điều trị ngay những chỗ trầy xước. Ngoài ra còn điều trị sớm tưa miệng và các chứng đau miệng của trẻ.

Cách phòng bệnh:
- Trước hết làm một xét nghiệm HBsAg trong huyết thanh thai phụ vào tháng thứ 6 của thai kỳ, nếu dương tính (+), đánh giá mức độ truyền bệnh, làm xét nghiệm bổ sung HBeAg hoặc ADN và anti HBe.

- Tốt nhất là tiêm vaccin viêm gan B cho tất cả các phụ nữ có HBsAg âm tính (-) trong huyết thanh trước hoặc trong khi có thai.

Chú ý: Khi bạn bị viêm gan B, bạn đang dự định mang thai hay bạn đã có thai chuẩn bị nuôi con bú, bạn muốn được tu van suc khoe truc tuyen hãy gọi cho tổng đài tu van suc khoe của chúng tôi theo số 19008909 để được tư vấn trực tiếp về bệnh viêm gan B và những lưu ý khi nuôi con bú. Chuyên mục tu vấn suc khoe va doi song của chúng tôi sẽ tư vấn miễn phí cho bạn 24/24h.

Nguồn: Suckhoe68.com

Tin liên quan:

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Tư vấn sức khỏe tình dục: Rối loạn khoái cảm ở phụ nữ, vì sao?

Tư vấn suc khoe tinh duc - Khi người phụ nữ không có khoái cảm và khoái cực thì thường được cho là “lãnh cảm”, thuật ngữ này không chính xác vì nó gợi ra một cảm giác sai lầm về cơ thể nữ - một cơ thể lạnh và không còn đáp ứng. Thật ra chứng rối loạn khoái cảm ở nữ bao gồm một thực tế rộng hơn với nhiều mức độ khó khăn trong sự khởi động tiến trình đáp ứng sinh lý.


Tư vấn suc khoe tinh duc: Rối loạn khoái cảm ở phụ nữ, vì sao?


Nguyên nhân dẫn đến rối loạn khoái cảm ở phụ nữ ảnh hưởng đến suc khoe tinh duc của phụ nữ    
Những tình huống sau đây có thể góp phần gây ra chứng rối loạn về khoái cảm: phụ nữ không có cảm xúc khi cơ thể được vuốt ve, không biểu lộ những đáp ứng khi có kích thích tình dục, đôi khi lại làm cho cơ bắp co cứng chứ không phải là thư giãn. Những vuốt ve không tạo ra cảm giác dễ chịu mà trái lại còn gây ra sự kinh sợ ảnh hưởng đến suc khoe tinh duc của phụ nữ; có thể chấp nhận được giai đoạn vuốt ve nhưng không đạt được khoái cực.       

Trong thực tế, phụ nữ có nhiều vùng phát sinh khoái cảm và có khoảng 25% phụ nữ có thể đạt được khoái cực nhờ có kích thích âm vật.       

Một số phụ nữ trong tâm trạng căng thẳng, stress, khi không thể có khoái cảm, họ có thể phải giả bộ để làm vui lòng bạn tình.       

Tư vấn suc khoe tinh duc - Phụ nữ không thể có khoái cảm tình dục trong điều kiện bình thường phần lớn có liên quan đến những xung đột nội tâm và trong trường hợp này cần liệu pháp tâm lý; nếu lại phối hợp với rối loạn về ham muốn thì cần nghĩ đến nguyên nhân hormon prolactin tiết ra quá nhiều trong máu, tuy hiếm gặp. Ngoài ra rối loạn khoái cảm ở nữ còn do tuyến nội tiết kém hoạt động bẩm sinh, rối loạn bản sắc giới...

Người muốn tình dục trở thành tuyệt vời hay say đắm cần nhiều điều kiện: có chuẩn bị, dành nhiều thời gian cho khúc dạo đầu trước khi có quan hệ tình dục thực sự; trong bối cảnh an toàn, có vai trò chia sẻ của cả 2 người...

Chức năng tình dục cũng sẽ bị ảnh hưởng khi xảy ra những sự cố trong đời sống: khi sinh đẻ, sang chấn tâm lý, xáo trộn nhiều trong đời sống... và nhất là những xung đột nho nhỏ nhưng không được giải quyết và tích lũy dần ảnh hưởng tới suc khoe va doi song của phụ nữ.

Suc khoe tinh duc - Thế nào là lãnh cảm đích  thực?
Nhiều nhà nghiên cứu không thừa nhận loại lãnh cảm này. Họ cho rằng trong thực tế không có người nam giới bị bất lực hoàn toàn thì cũng không có người phụ nữ hoàn toàn lãnh cảm. Ý kiến này được nhiều người đồng tình nhưng dù sao cũng không thể phủ nhận rằng phụ nữ lãnh cảm là một hiện tượng có thực.

       

Ngoài những nguyên nhân lãnh cảm bẩm sinh đích thực, còn có nhiều nguyên nhân lãnh cảm thứ phát hay mắc phải khác như: những cú sốc thể chất và tâm lý. Ví dụ, lần “yêu” đầu tiên, chú rể thô bạo khiến cô dâu sợ “yêu” rồi dần dần dẫn tới rối loạn khoái cảm; những phụ nữ bị cưỡng bức; chấn thương tâm lý cũng có thể dẫn đến hậu quả tạo ra phản xạ  phòng vệ quá mức và không thể lặp lại được đời sống tình dục, suc khoe tinh duc bình thường; sau đẻ, sau nạo thai cũng có khi gặp trạng thái giảm khoái cảm hoặc lãnh cảm ở  những phụ nữ xưa nay vẫn có đời sống tình dục bình thường. Ngoài ra, thủ dâm quá nhiều cũng dẫn tới rối loạn khoái cảm. Lý do là vì trong thói quen tự kích dục, nữ tập trung nhiều vào khu vực phát sinh cảm giác âm vật, trong khi quan hệ tình dục bình thường thì âm đạo và cổ tử cung được tác động nhiều hơn, vì thế người phụ nữ không thể đạt được khoái cực theo cách thông thường. 

Tuy nhiên, thói quen tự kích dục chỉ là nguyên nhân phổ biến chứ không phải là tuyệt đối của chứng lãnh cảm nữ. Những yếu tố tâm lý mà người ta gọi là những tác nhân ức chế tâm lý cũng có vai trò quan trọng gây ra lãnh cảm. Sợ và lo hãi có nhiều loại, ví dụ như sợ có thai - dù có ý thức hay vô thức - cũng ức chế khoái cực. Điều này đặc biệt đúng với nhiều phụ nữ tin tuyệt đối rằng khoái cực là yếu tố chủ yếu gây ra có thai. Nhiều người sợ có thai đến mức chỉ nghĩ đến thai nghén là đã ức chế cung phản xạ dẫn đến khoái cực ảnh hưởng đến suc khoe tinh duc của phụ nữ. Sợ nhiễm bệnh (lao, hoa liễu)  không những ức chế mạnh phụ nữ về khoái cảm mà cả nam giới. Có những phụ nữ không dám bộc lộ ham muốn với bạn tình, xem đó là sự tự hạ thấp. Loại sợ này được các nhà nghiên cứu xem là dấu hiệu của cuộc đấu tranh giữa 2 giới. Vì thế cũng tự huỷ diệt quyền  được hưởng khoái cảm tình dục. Mặc cảm phạm tội, hối hận, muốn tự trừng phạt, mắc bệnh histeria và thần kinh... cũng là những nguyên nhân tâm lý của lãnh cảm. Có thể kể thêm nhiều nguyên nhân tâm lý khác nhưng có lẽ đã đủ để khẳng định rằng phụ nữ lãnh cảm là hiện tượng có thực nhưng rất tiếc những nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này chưa nhiều ảnh hưởng đến suc khoe tinh duc của phụ nữ.       

Chú ý: Nếu bạn có thắc mắc về hiện tượng rối loạn khoái cảm ở phụ nữ và muốn được tu van suc khoe thì bạn hãy gọi điện đến tổng đài 19008909 để nhận được sự tu van suc khoe truc tuyen cụ thể.

BS. Đoàn Hằng (Nguồn SKĐS) - Suckhoe68.com

Tin liên quan:

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2012

Tư vấn nam khoa: Phòng khám nam khoa ở Hà Nội


Nam khoa - Nhiều bạn nam khi có vấn đề về suc khoe tinh duc hoặc sức khỏe sinh sản thường băn khoăn không biết đi khám ở đâu? Dưới đây là những Phòng khám nam khoa địa chỉ khám nam khoa uy tín và chất lượng ở hà nội. 



Tư vấn nam khoa: Phòng khám nam khoa ở Hà Nội

Khi có vấn đề về suc khoe tinh duc hoặc sức khỏe sinh sản bạn hãy đến các trung tâm tư vấn để được tư vấn  miễn phí.

1. Trung tâm Nam học Bệnh viện Việt Đức:

Phòng khám nam khoa địa  chỉ: Phòng khám nam khoa số 51, Khu khám bệnh, 14 Phủ Doãn, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Bệnh nhân đến khám vào các ngày trong tuần, trừ chiều thứ 5
Hoặc liên hệ số điện thoại: 0903.201919

Phòng khám nam khoa Phòng khám nam khoa địa  chỉ: 43 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội

 2. Khoa Hiếm muộn - Bệnh viện Phụ sản Trung ương (Viện C):

 Điện thoại: (04) 38259281

3. Khoa Hiếm muộn - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội:

Phòng khám nam khoa Phòng khám nam khoa địa  chỉ: Đường La Thành, Hà Nội
Điện thoại: (04) 38343432

4. Khoa Phôi học - Bệnh viện 103:

Phòng khám nam khoa Phòng khám nam khoa địa  chỉ: 111 Phùng Hưng, Hà Đông, Hà Nội

5. Khoa Nam học - Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam:

Phòng khám nam khoa Phòng khám nam khoa địa  chỉ: Số 2, Trần Phú, Hà Đông, Hà Nội 
Điện thoại: (04) 3382 4929

6. Trung tâm phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh Sáng:

Phòng khám nam khoa Phòng khám nam khoa địa chỉ: Tòa nhà số 4, nhà A2, Nguyễn Khánh Toàn, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: (04) 62696269 / (04) 62696262

7. Ngôi nhà Tuổi Trẻ: 

Phòng khám nam khoa Phòng khám nam khoa địa chỉ: Số 5, Nguyễn Quý Đức, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: (04) 35540155



8. Phòng khám nhà hộ sinh A:

Phòng khám nam khoa địa chỉ: 36 Ngô Quyền, Hà Nội
Điện thoại: (04) 38253828

9. Phòng khám nhà hộ sinh Ba Đình: 

Phòng khám nam khoa địa  chỉ: 12 Lê Trực, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: (04) 38452579

10. Phòng khám bệnh viện Tâm Anh:

Phòng khám nam khoa địa  chỉ: 30A Lý Nam Đế, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: (04) 37478526

11.Phòng khám số 1- Bệnh viện Đại học Y (Cạnh cổng trường Đại học Y, gần ngân hàng BIDV)

Số 1 phố Tôn Thất Tùng, Đống Đa, Hà Nội

 Lịch khám chữa bệnh:

 Sáng thứ 7 hàng tuần vào giờ hành chính

 Để được phục vụ tốt hơn, bạn nên gọi điện đăng kí trước theo số ĐT : 094- 274-8240 

Nếu bạn cần tu van suc khoe truc tuyen những vấn đề nam khoa hãy gọi điện đến tổng đài tư vấn nam khoa, hay bạn có nhu cầu tư vấn suc khoe va doi song, suc khoe tinh duc bạn hãy gọi điện tới số điện thoại 19080909 để nhận được sự tư vấn suc khoe tinh duc từ phía chúng tôi. Chúc các bạn sức khỏe!

BS. Đoàn Hằng theo Suckhoe68.com

Tin liên quan:

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Bệnh viêm gan B và cách điều trị bệnh viêm gan B


Hiện nay có nhiều loại thuốc điều trị viêm gan B mạn. Các thuốc này chia làm 2 nhóm chính, có thể sử dụng điều trị riêng lẻ hay phối hợp. Các thuốc được gọi là điều hoà miễn dịch vì chúng tác động lên hệ thống miễn dịch của cơ thể đối với kháng nguyên của HBV trên bề mặt tế bào gan như Interferon (IFN)...Nhóm thứ 2 được gọi là các thuốc chống virut, thuốc này có tác dụng ức chế sự nhân lên của virut viêm gan B, ngăn cản hiện tượng nhiễm virut lên các tế bào gan bình thường. Các thuốc này không có ảnh hưởng trực tiếp lên hệ thống điều hoà miễn dịch mà chỉ có ảnh hưởng gián tiếp. 


Bệnh viêm gan B và cách điều trị bệnh viêm gan B


I.Các thuốc điều trị bệnh viêm gan B

+ Interferon
: Có hiệu năng tăng cường khả năng miễn dịch, ngoài ra còn kháng virut. Thuốc bị thủy phân ở đường tiêu hóa nên chỉ dùng đường tiêm. Khi dùng, một số người bệnh có thể gặp các triệu chứng như sốt, rụng tóc, mệt... Tuy nhiên, giá thành của thuốc còn cao, lại phải dùng lâu dài nên nhiều trường hợp không có điều kiện. Vì thế, thuốc tuy rất tốt nhưng ít người bệnh lựa chọn.
- Đối với người lớn: tiêm dưới da 5 triệu đv/24h hoặc 10 triệu đv/lần x 3 lần/tuần.
- Trẻ em: 6 triệu đv/1m2 da x 3 lần/tuần, cao nhất là 10 triệu đv.
Thời gian điều trị bệnh viêm gan B: 16 tuần đối với viêm gan B mạn tính HbeAg (+); 12 tháng đối với viêm gan B mạn tính có HBeAg (-)


+ Lamivudin

Có hiệu năng kháng virut viêm gan B. Khi dùng đủ liệu trình thì dấu hiệu lâm sàng mất đi, ALT trở về bình thường, lượng virut (HBVDNA) giảm, hình ảnh mô học gan cải thiện. Thời gian đạt được mục tiêu này lệ thuộc vào từng người, ít nhất là 1 năm, trung bình 2 năm, có khi kéo dài tới 3 năm, nếu tái phát còn có thể dùng lại. Trước năm 2000, lamivudin được xem là thuốc đầu tay (rẻ tiền, dùng đường uống, tiện lợi). Nhưng hiện nay tỷ lệ kháng lamivudin lên tới 70% (lamivudin bị kháng thuốc theo kiểu gen) nên hiện không được ưa dùng nhiều. Tuy nhiên, cũng có khoảng 20% người bệnh hầu như không bị kháng thuốc. Cần lưu ý điều này để có thể dùng lamivudin cho người có khả năng đáp ứng, nhất là với người kinh tế khó khăn (lamivudin vẫn là thuốc có giá rẻ).

+ Adefovir, entecavi, telbivudin

Thời gian đạt được mục tiêu điều trị ngắn hơn lamivudin. Tỷ lệ kháng thuốc thấp hơn lamivudin và có hiệu quả với những người bệnh đã kháng với lamivudin.

+ Tenofovir

Là thuốc mới nhất được EU (Mỹ) mới cho dùng năm 2008. Qua các nghiên cứu cho thấy tenofovir tốt hơn các thuốc trước đó cả về mức đạt được hiệu quả và chưa bị kháng thuốc chữa bệnh viêm gan B. 

+ Dùng phối hợp thuốc: Mấy năm gần đây, có một số nghiên cứu phối hợp thuốc trong điều trị viêm gan siêu vi B. Phối hợp chất tăng cường miễn dịch (interferon- pegylat) với chất kháng virut (lamivudin) cho kết quả tốt hơn dùng mỗi thứ riêng lẻ, nhưng phối hợp hai chất kháng virut thì cho kết quả không đều. Chẳng hạn dùng lamivudin+ adefovir với người đã bị kháng lamivudin thì tính trên người dùng có 80% có đáp ứng, 80% giảm HBV DNA đến mức không phát hiện được, 84% ALT trở lại bình thường. Sau khi ngừng dùng 3 năm không nhận thấy có sự bùng nổ đảo ngược về virut viêm gan B hay lâm sàng học, không hình thành sự đề kháng kiểu gen, không mất bù trừ ở người xơ gan. Nhưng có trường hợp không cho kết quả tốt hơn. Chẳng hạn: dùng lamivudin+ telbivudin thì tốt hơn dùng riêng lamivudin nhưng lại không tốt hơn dùng riêng telbivudin. Vì sự phối hợp chưa ổn định, hơn nữa làm tăng chi phí điều trị nên các nghiên cứu này chưa áp dụng lâm sàng.



II.Tiêu chuẩn ngừng điều trị

Tải lượng HBV càng cao (số lượng bản sao HBV DNA/1ml máu lớn) thì nguy cơ xơ gan, ung thư gan càng lớn. Tải lượng HBV là yếu tố tiên đoán độc lập cho sự phát triển xơ gan, ung thư gan. Nồng độ ALT càng cao thì nguy cơ xơ gan, ung thư gan cũng càng lớn. Vì thế, khi điều trị viêm gan B mạn, cần đưa HBV DNA về dưới ngưỡng và đưa ALT về mức bình thường mới ngừng thuốc (Ngừng điều trị khi đạt mục đích điều trị).

Cụ thể

- Xét nghiệm HBeAg (6 tháng 1 lần) và men gan ALT (3 tháng 1 lần). Nếu HBeAg (+) men ALT bình thường, tiếp tục điều trị.

- Nếu HBeAg (-) men ALT bình thường, xem xét khả năng ngưng thuốc.

Nhưng trước khi quyết định ngừng thuốc cần xét nghiệm anti-HBe và HBV-ADN. Nếu anti HBe dương tính tồn tại kéo dài và HBV-ADN âm tính thì có thể ngừng thuốc. Sau đó 6 tháng đến 1 năm xét nghiệm, kiểm tra lại để sớm phát hiện bệnh tái phát.

Ở các bệnh viện tuyến trên, thường xét nghiệm HBV DNA. Đây là chỉ số cho biết tình trạng sinh sản (nhân đôi tế bào) của virut viêm gan B  HBV DNA (+) chứng tỏ virut đang sinh sôi (khi điều trị HBV DNA thường giảm, lý tưởng là đạt đến mức không còn HBV DNA, nhưng trong thực tế chỉ có thể đạt được mức tối đa, tức là vẫn có thể còn HBV DNA nhưng không còn phát hiện được bằng các phương pháp thông thường). Có lúc HBVDNA chỉ giảm đến một mức nhất định. Ví dụ lúc đầu, HBVDNA = 200.000 bản sao/1ml máu, sau điều trị chỉ còn 300 bản sao/1ml máu thì coi như bệnh đã ổn định, có thể ngừng thuốc. 

Hiện đã có xuất hiện sự kháng thuốc, đặc biệt xuất hiện các chủng kháng thuốc đột biến gen. Khi đã điều trị đủ liệu trình, đạt kết quả, cho ngừng thuốc thì vẫn theo dõi định kỳ để xử lý việc bùng phát virut viêm gan B. Khi bị kháng thuốc, cần chấp nhận một liệu trình khác, không bi quan bỏ mặc vì có thể bột phát nguy hiểm. Không tự ý dùng thuốc cũng như tự ý bỏ dở điều trị, tự ý kéo dài thời gian điều trị.

Trong quá trình điều trị, cần khám và xét nghiệm định kỳ bệnh viêm gan B  Trong trường hợp không hoặc chưa dùng thuốc (trường hợp 2 - 3 - 4) thì cần tự theo dõi chặt chẽ, khi cần phải đi khám để được các bác sĩ tu van suc khoe và được xét nghiệm ngay (trường hợp 3 - 4).

Chú ý: Để biết cách điều trị bệnh viêm gan B bạn hãy gọi điện đến tổng đài tu van suc khoe truc tuyen  9008909 của Suckhoe68.com để bạn có thể được tu van suc khoe va doi song và được tư vấn cụ thể.

Nguồn: Suckhoe68.com

Xem tin liên quan:


Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Sức khỏe tình dục nam giới

Suc khoe tinh duc nam giới trứng rối loạn cường dương là bệnh nam khoa được coi là tình trạng dương vật không có khả năng đạt được độ cương cứng và/ hoặc không duy trì được tình trạng cương cứng để thực hiện trọn vẹn hoạt động tình dục đến khi đạt được cực khoái; còn tình trạng liệt dương thì hiếm gặp hơn nhiều.

>> Tư  vấn sức khỏe tình dục: Vitamin tốt cho chuyện...ấy


Suc khoe tinh duc nam giới

Trong mọi thời gian tồn tại của loài người, khả năng duy trì nòi giống của đàn ông, quyền làm cha được coi là một trong những quà tặng vĩ đại nhất của tự nhiên dành cho họ. Đối với đa số đàn ông, một khả năng tình dục tốt được coi là một trong các chỉ tiêu quan trọng của sự hoàn hảo, của chất lượng cuộc sống.

Đối với đàn ông luôn muốn tăng khả năng tình dục, suc khoe tinh duc khi khả năng tình dục không tốt có lẽ là một trong những chấn thương tinh thần mạnh mẽ nhất, làm tổn thương không chỉ tới cuộc sống của chính họ mà còn đến cả cuộc sống của gia đình họ.

Nhiều nghiên cứu dịch tễ trên thế giới đã khẳng định, hiện nay có 15% các cặp vợ chồng không có khả năng sinh con, trong số đó 40-50% là do những nguyên nhân từ sức khỏe sinh sản nam giới. Những nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, trên 50% đàn ông ở độ tuổi trên 40 ở mức độ nào đó có rối loạn về sinh lý, trong số đó chỉ có 10% bệnh nhân có rối loạn cường dương (không đủ độ cương cứng, liệt dương...) có đến thăm khám bác sĩ. Có lẽ nguyên nhân là do sự ngại ngùng xấu hổ, cảm giác bất lực, cảm giác không còn nam tính, một số ít thì không tin vào sự giúp đỡ của bác sĩ...

Theo các số liệu nghiên cứu thì đa số các trường hợp rối loạn sinh lý ở đàn ông là yếu sinh lý - rối loạn cường dương ảnh hưởng đến suc khoe tinh duc nam giới (erectile disfunction).

Rối loạn cường dương sẽ ảnh hưởng tới suc khoe tinh duc của nam giới triệu chứng này được coi là tình trạng dương vật không có khả năng đạt được độ cương cứng và/ hoặc không duy trì được tình trạng cương cứng để thực hiện trọn vẹn hoạt động tình dục đến khi đạt được cực khoái; còn tình trạng liệt dương thì hiếm gặp hơn nhiều.



Nguyên nhân gây ra tình trạng yếu sinh lý rất đa dạng, là những rối loạn khác nhau mà đa phần là những rối loạn ở các cơ quan và hệ thống khác nhau trong cơ thể. Một trong các nguyên nhân phổ biến nhất gây rối loạn cường dương là các bệnh lý về tim mạch.
Gần đây các nhà nam học (nghiên cứu về sức khỏe đàn ông) cho rằng, rối loạn cường dương có thể được coi là một trong những biểu hiện phản ánh tình trạng suc khoe tinh duc không bình thường trong hệ thống tim mạch, và những yếu tố thúc đẩy sự phát triển rối loạn cường dương cũng chính là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của các biến chứng tim mạch trầm trọng như nhồi máu cơ tim, đột qụy.

Để tăng suc khoe tinh duc khả năng tình dục tốt chỉ có được khi chức năng tim mạch trong trạng thái tốt, thành mạch máu khỏe mạnh. Nếu thành mạch bị tổn thương như trong xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, bệnh tiểu đường, nghiện thuốc... một trong các biểu hiện cùng với những biểu hiện khác sẽ là rối loạn cường dương. Vì như chúng ta đã biết, dương vật có hai ống mạch lớn (thể hang) ở hai bên và một thể xốp ở giữa. Lúc cương cứng chính là do máu được dồn đầy về các thể hang này.

Ở những người đàn ông bị một trong các bệnh trên các thành mạch ngày càng trở lên xơ cứng, giảm khả năng đàn hồi và giãn, trong đó có thành của các thể hang này. Đây là nguyên nhân chính làm giảm lượng máu dồn về các ống mạch của dương vật, làm giảm khả năng cương cứng của nó.

Còn tồn tại các nguyên nhân ảnh hưởng tới suc khoe tinh duc không kém phần quan trọng gây rối loạn cường dương đó là trạng thái stress tâm lý và những rối loạn tâm thần. Hệ thống thần kinh đóng vai trò điều hòa điều khiển lên các quá trình trong cơ thể, mà các quá trình (các cơ quan và hệ thống) trong cơ thể là một hệ thống thống nhất. Rối loạn một khâu trong hệ thống sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các khâu khác (các cơ quan và hệ thống khác). Quá trình cương cứng dương vật đặc biệt phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc tâm lý.

Theo ý kiến của các nhà nam học thì rối loạn cường dương có thể được coi là biểu hiện ban đầu (biểu hiện sớm) của bệnh lý mạch máu - xơ vữa động mạch trước khi xuất hiện các biểu hiện rối loạn tuần hoàn trong cơ tim, và y học cho rằng khả năng tình dục bình thường là chỉ tiêu của sức khỏe. Hay nói cách khác, ở những người đàn ông không có vấn đề gì trong việc đạt cực khoái sẽ ít có nguy cơ bị mắc các bệnh tim mạch và các biến chứng của chúng, còn những người đàn ông có bệnh lý tim mạch kết hợp bị rối loạn cường dương sẽ có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đột qụy cao.

Tóm lại, những người đàn ông khỏe mạnh muốn duy trì "suc khoe tinh duc" cần phải sống một cuộc sống lành mạnh, từ bỏ các thói quen có hại (hút thuốc, uống rượu); chế độ lao động và nghỉ ngơi khoa học; chế độ dinh dưỡng để duy trì cân nặng ở mức hợp lý, tập luyện các bài tập rèn chức năng tim mạch (rèn sức bền) như đi bộ nhanh, chạy, bơi, đạp xe đạp, tập thường xuyên, tùy sức; kiểm tra sức khỏe định kỳ để khám phá những yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch, chẩn đoán sớm tình trạng mãn dục nam để có các biện pháp điều chỉnh.

Còn những đức ông đã có các bệnh lý về tim mạch cần phải thực hiện các chế độ chữa trị (dùng thuốc và không dùng thuốc) để cải thiện suc khoe tinh duc  cải thiện tình trạng của thành mạch, thông qua đó sẽ cải thiện được chất lượng cuộc sống tình dục và "sức khỏe đàn ông".


Chú ý:  Khi bạn có thắc mắc về vấn đề suc khoe tinh duc, các bệnh lý nam khoa hãy gọi điện đến tổng đài tu van suc khoe truc tuyen , tư vấn sức khỏe tình dục 19008909 để nhận được sự tư vấn từ các chuyên gia.

BS. Đoàn Hằng (Suckhoe68.com)

Tin liên quan: 

>> Tư vấn sức khỏe trực tuyến: Ucare Việt
>> Tư vấn nam khoa: Vấn đề vô sinh ở nam giới